Thanh toán bù trừ công nợ có được khấu trừ thuế GTGT?

Hình thức thanh toán bù trừ công nợ là gì, có được khấu trừ thuế giá trị gia tăng (GTGT) và đưa vào chi phí hợp lý khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp không? Cùng tìm hiểu về vấn đề này qua bài viết dưới đây.
Thanh toán bù trừ công nợ là gì?

Hình thức thanh toán bù trừ công nợ là hình thức thanh toán bù trừ nghĩa vụ với nhau giữa các bên để xác định xem bên nào là bên cuối cùng có nghĩa vụ.

Theo đó, các bên trong giao dịch mua bán, cung cấp dịch vụ sẽ đồng thời là người bán và người mua (vừa có công nợ phải thu, vừa có công nợ phải trả). Trong trường hợp này, kế toán sẽ thực hiện các công việc sau:

– Xác định các chứng từ công nợ phải thu và chứng từ công nợ phải trả;

– Thực hiện bù trừ giữa công nợ phải thu và công nợ phải trả;

– Cập nhật việc bù trừ công nợ vào sổ theo dõi công nợ.

>> Xem thêm: BÁO GIÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KÝ THÀNH LẬP CÔNG TY

Hồ sơ thanh toán bù trừ công nợ bao gồm:

– Bảng công nợ.

– Hợp đồng mua bán, hợp đồng kinh tế hoặc hợp đồng thương mại.

– Biên bản nghiệm thu, biên bản giao hàng hoặc biên bản xuất kho.

– Thanh lý hợp đồng.

– Bản đối chiếu công nợ.

– Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt.

Thanh toán bù trừ công nợ có được xem là thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT
Tại khoản 1, 2 Điều 26 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP quy định:

Điều 26. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt

Cơ sở kinh doanh phải có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ 05 triệu đồng trở lên đã bao gồm thuế giá trị gia tăng. Trong đó:

1. Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt là chứng từ chứng minh việc thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định của Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt, trừ các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán.

2. Một số trường hợp đặc thù theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 14 Luật Thuế giá trị gia tăng 2024 bao gồm:

a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

b) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua bên thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn đối với khoản vay, mượn bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà bên bán hỗ trợ cho bên mua, hoặc nhờ bên mua chi hộ.

…

Căn cứ quy định trên, thanh toán bù trừ công nợ có thể được xem là hình thức thanh toán đáp ứng điều kiện về chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu đáp ứng quy định tương ứng với từng trường hợp.

Cụ thể, có hai trường hợp cần lưu ý:

– Bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra hoặc vay mượn hàng:
  • Phương thức thanh toán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng; đồng thời, phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ.
  • Nếu bù trừ công nợ qua bên thứ ba, phải có biên bản bù trừ công nợ của ba bên.
– Bù trừ công nợ thông qua vay, mượn tiền hoặc cấn trừ công nợ qua bên thứ ba:
  • Phương thức thanh toán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng. Đối với khoản vay, mượn bằng tiền, phải có hợp đồng vay, mượn tiền bằng văn bản được lập trước đó và chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay, cho mượn sang tài khoản của bên đi vay, đi mượn.
  • Quy định này cũng áp dụng đối với trường hợp bù trừ giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền bên bán hỗ trợ bên mua hoặc nhờ bên mua chi hộ.
Xem thêm:

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *